
Tình tiết giảm nhẹ là gì theo Điều 51 Bộ luật Hình sự? Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì? Quy định về tình tiết giảm nhẹ hình sự mới nhất 2026.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là nội dung quan trọng giúp xác định mức hình phạt phù hợp trong từng vụ án. Căn cứ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, các tình tiết này được áp dụng dựa trên hành vi, nhân thân và hoàn cảnh phạm tội. Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp và phân tích chi tiết các tình tiết giảm nhẹ theo quy định hiện hành.
I. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì theo Bộ luật Hình sự?
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những yếu tố phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấp hơn hoặc thể hiện nhân thân, thái độ tích cực của người phạm tội, từ đó được Tòa án xem xét để giảm nhẹ khung hình phạt khi quyết định xử phạt.
Các tình tiết này được quy định cụ thể tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
II. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Điều 51 Bộ luật Hình sự
1. Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm a)
Tình tiết này ghi nhận sự chủ động của người phạm tội sau khi hành vi đã xảy ra, cụ thể:
- Ngăn chặn tác hại: Sau khi thực hiện hành vi, người phạm tội bằng khả năng của mình (tự nguyện hoặc do tác động khách quan) đã kịp thời ngăn chặn không để hậu quả xảy ra;
- Giảm bớt tác hại: Khi hậu quả đang phát sinh, người phạm tội đã có biện pháp hạn chế hoặc ngăn không cho thiệt hại tiếp tục hoặc nghiêm trọng hơn.
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ chủ động và hiệu quả thực tế đạt được.
2. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (điểm b)
Tình tiết này được xác định đối với người phạm tội trong các trường hợp sau:
- Trực tiếp hoặc thông qua người khác thực hiện việc bồi thường, khắc phục hậu quả;
- Dù không có nghĩa vụ pháp lý vẫn chủ động dùng tài sản của mình (hoặc đồng ý cho người khác sử dụng) để bù đắp thiệt hại;
- Đã thực hiện việc bồi thường nhưng bị từ chối và số tiền, tài sản đã được giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lý;
- Bị từ chối nhận nhưng vẫn lưu giữ tài sản để sẵn sàng khắc phục khi có yêu cầu.
Lưu ý:
Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chủ động, thiện chí và kết quả thực tế của việc khắc phục hậu quả.
3. Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (điểm c)
Đây là trường hợp việc chống trả nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình/người khác hoặc nhà nước, cơ quan/tổ chức nhưng vượt quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.
Hành vi này thể hiện sự không tương xứng rõ rệt giữa phòng vệ và xâm hại. Việc xác định phải dựa trên đánh giá toàn diện các yếu tố như: lợi ích cần bảo vệ, thiệt hại có thể xảy ra, công cụ và cách thức thực hiện, nhân thân người xâm hại, tương quan lực lượng, mức độ tấn công và bối cảnh cụ thể.
4. Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (điểm d)
Là việc gây thiệt hại nhằm ngăn ngừa nguy cơ đối với quyền, lợi ích hợp pháp của mình/người khác hoặc nhà nước, cơ quan/tổ chức trong khi không còn cách nào khác, nhưng mức thiệt hại thực tế lại vượt quá giới hạn cần thiết (bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần tránh).
5. Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ)
Là việc dùng vũ lực để khống chế người phạm tội trong khi không còn biện pháp khác, nhưng đã sử dụng lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.
6. Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra (điểm e)
Tình tiết này được xác định khi:
- Người phạm tội bị kích động tức thời do hành vi trái pháp luật của nạn nhân, dẫn đến mất khả năng tự chủ khi thực hiện hành vi;
- Bị dồn nén, áp bức kéo dài đến khi hành vi trái pháp luật tiếp diễn thì không kiềm chế được mà phạm tội.
Lưu ý:
1) Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm của nạn nhân và mối quan hệ nhân quả với trạng thái tinh thần của người phạm tội.
2) Tình tiết này chỉ áp dụng khi hành vi trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích, nếu không thỏa mãn điều kiện này thì không được coi là căn cứ giảm nhẹ.
7. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra (điểm g)
Là trường hợp người phạm tội bị điều kiện khó khăn đặc biệt chi phối và hoàn cảnh này do yếu tố khách quan hoặc người khác gây ra (như thiên tai, tai nạn, bệnh nặng, sự kiện bất khả kháng…).
Chỉ áp dụng khi đồng thời có 2 điều kiện là hành vi phạm tội xuất phát từ hoàn cảnh đó và người phạm tội không tự gây ra khó khăn.
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ khó khăn và khả năng khắc phục hậu quả.
8. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (điểm h)
Tình tiết này bao gồm:
- Chưa gây thiệt hại: Hành vi đã hoàn thành nhưng không phát sinh hậu quả thực tế (vật chất hoặc phi vật chất), cần phân biệt với trường hợp phạm tội chưa đạt;
- Thiệt hại không lớn:
- Đã có hậu quả nhưng ở mức thấp so với tính chất thông thường của tội phạm;
- Việc xác định dựa trên giá trị tài sản và mức độ ảnh hưởng đến cá nhân, xã hội (uy tín, tinh thần, sức khỏe…).
Lưu ý:
Mức độ đánh giá căn cứ vào hậu quả thực tế và tác động của hành vi.
9. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i)
Tình tiết này chỉ áp dụng khi đồng thời có 2 điều kiện:
- Phạm tội lần đầu: Trước đó chưa phạm tội hoặc đã thực hiện hành vi nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng biện pháp giáo dục, được coi không có án tích hoặc đã được xóa án tích;
- Thuộc trường hợp ít nghiêm trọng: Hành vi có mức độ nguy hiểm không lớn, khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù hoặc người phạm tội giữ vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm.
Nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện trên thì không được áp dụng tình tiết này, đồng thời không áp dụng khi trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có thể bạn cần:
>> Quy định về xóa án tích;
>> Thủ tục xóa án tích tại Sở Tư pháp.
10. Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức (điểm k)
Tình tiết này bao gồm:
- Bị đe dọa: Người phạm tội lo sợ hậu quả bất lợi nếu không làm theo nên buộc phải thực hiện hành vi;
- Bị cưỡng bức: Bị dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay hoặc tác động khác về thể chất, tinh thần dẫn đến việc phạm tội.
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ ép buộc và tính chất hành vi phạm tội.
11. Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (điểm l)
Là khi người phạm tội thực hiện hành vi trong tình trạng không đủ khả năng nhận biết đầy đủ tính chất, hậu quả, do yếu tố khách quan tác động (như bị ép buộc, lừa dùng chất kích thích…), không phải tự gây ra.
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ hạn chế nhận thức và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.
12. Phạm tội do lạc hậu (điểm m)
Là trường hợp người phạm tội do trình độ, nhận thức hạn chế nên không hiểu đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi hoặc không theo kịp sự phát triển xã hội.
Chỉ áp dụng khi sự lạc hậu xuất phát từ nguyên nhân khách quan (thiếu điều kiện học tập, hiểu biết pháp luật hạn chế, hoàn cảnh xã hội…).
13. Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên (điểm n, o)
Tình tiết này được áp dụng khi tại thời điểm thực hiện hành vi hoặc trong quá trình tố tụng, người phạm tội thuộc 1 trong 2 trường hợp:
- Là phụ nữ có thai;
- Là người từ đủ 70 tuổi trở lên.
Việc xác định phải dựa trên kết luận chuyên môn hoặc tài liệu hợp pháp.
14. Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (điểm p)
Tình tiết này được áp dụng khi tại thời điểm phạm tội hoặc trong quá trình tố tụng, người đó thuộc 1 trong 2 mức độ:
- Khuyết tật nặng: Suy giảm chức năng, không thể tự sinh hoạt bình thường, cần hỗ trợ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;
- Khuyết tật đặc biệt nặng: Mất hoàn toàn chức năng, không thể tự phục vụ, phải phụ thuộc hoàn toàn hoặc suy giảm từ 81% trở lên.
Việc xác định dựa trên kết luận chuyên môn hoặc giấy tờ hợp pháp và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ khuyết tật.
15. Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (điểm q)
Tình tiết này được áp dụng khi:
- Bệnh lý là nguyên nhân làm giảm khả năng nhận thức hoặc kiểm soát hành vi;
- Tuy vẫn nhận thức được hành vi nguy hiểm, nhưng không thể điều khiển theo ý muốn do hạn chế về thể chất.
Chỉ áp dụng khi có kết luận chuyên môn xác định bệnh và mối liên hệ trực tiếp với việc hạn chế khả năng này.
16. Người phạm tội tự thú (điểm r)
Là việc tự nguyện khai báo hành vi phạm tội trước khi bị phát hiện. Trường hợp đã bị phát hiện về một hành vi nhưng chủ động khai thêm tội khác chưa bị phát hiện thì vẫn được coi là tự thú đối với phần hành vi đó.
17. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s)
Tình tiết này được hiểu là:
- Thành khẩn khai báo: Khai nhận đầy đủ, đúng sự thật về hành vi phạm tội;
- Ăn năn hối cải: Thể hiện sự hối hận, mong muốn sửa chữa lỗi lầm và khắc phục hậu quả.
Lưu ý:
1) Hai yếu tố này không tách rời, chỉ được tính là một tình tiết giảm nhẹ.
2) Vẫn áp dụng nếu người phạm tội bị bắt quả tang nhưng sau đó khai báo trung thực, trường hợp ban đầu chối tội rồi mới khai đúng sự thật thì vẫn được xem xét, nhưng mức giảm nhẹ thấp hơn so với việc khai báo ngay từ đầu.
18. Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (điểm t)
Là việc sau khi phạm tội, người đó chủ động hỗ trợ quá trình phát hiện, chứng minh và giải quyết vụ án, giúp xử lý nhanh hơn.
Hành vi hợp tác thể hiện qua việc cung cấp thông tin, tài liệu, vật chứng; chỉ nơi cất giấu công cụ phạm tội hoặc tiết lộ nơi ở của đồng phạm…
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ chủ động, giá trị thông tin và hiệu quả thực tế của sự hợp tác.
19. Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm u)
Là trường hợp từ sau khi phạm tội đến trước khi xét xử, người đó có hành động được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, khen thưởng như:
- Hỗ trợ phát hiện, ngăn chặn hoặc bắt giữ tội phạm khác không liên quan đến vụ án của mình;
- Có hành vi dũng cảm, có ích cho xã hội nhằm bù đắp hậu quả, như cứu người, bảo vệ tài sản trong tình huống nguy hiểm.
Lưu ý:
Mức giảm nhẹ phụ thuộc vào giá trị, ý nghĩa của công lao đã thực hiện.
20. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác (điểm v)
Là trường hợp đã được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận, khen thưởng như:
- Được tặng huân, huy chương, danh hiệu vinh dự, giải thưởng, bằng khen, danh hiệu thi đua hoặc có sáng chế giá trị;
- Được trao kỷ niệm chương do có đóng góp cho cơ quan, tổ chức;
- Các hình thức khen thưởng hợp pháp khác theo quy định.
21. Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (điểm x)
Tình tiết này được áp dụng khi:
- Thuộc diện người có công với cách mạng theo quy định pháp luật;
- Là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (kể cả trường hợp tái hôn nhưng vẫn thờ cúng, hoặc có công nuôi dưỡng liệt sĩ và thân nhân của họ).
Lưu ý:
Nếu đồng thời thuộc cả hai trường hợp thì được tính là hai tình tiết giảm nhẹ.
-----
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ được liệt kê tại Khoản 1 Điều 51 theo phân tích nêu trên, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể xem xét những yếu tố khác để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng phải nêu rõ căn cứ trong bản án. Các tình tiết này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
III. Các câu hỏi liên quan những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì?
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những yếu tố phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấp hơn hoặc thể hiện nhân thân, thái độ tích cực của người phạm tội, từ đó được Tòa án xem xét để giảm nhẹ hình phạt khi quyết định hình phạt.
Các tình tiết này được quy định cụ thể theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Các trường hợp được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”?
Tình tiết này được xác định trong các trường hợp sau:
- Trực tiếp hoặc thông qua người khác thực hiện việc bồi thường, khắc phục hậu quả;
- Dù không có nghĩa vụ pháp lý, vẫn chủ động dùng tài sản của mình (hoặc đồng ý để người khác thực hiện) để bù đắp thiệt hại;
- Đã thực hiện việc bồi thường nhưng bị từ chối và số tiền, tài sản đã giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lý;
- Bị từ chối nhận nhưng vẫn lưu giữ tài sản để sẵn sàng khắc phục khi có yêu cầu.
Cần lưu ý rằng, mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chủ động, thiện chí và kết quả thực tế của việc khắc phục hậu quả…
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội/định khung thì có được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt nữa không?
Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 51, những tình tiết đã được BLHS sử dụng làm căn cứ xác định tội danh hoặc khung hình phạt thì không được tiếp tục xem là yếu tố giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Luật sư Diễn Trần - Phòng Pháp lý Anpha